Một số kiến thức học được từ thư thường niên Berkshire Hathaway – Năm 1975-76

Thư gửi cổ đông năm 1975-76 của tập đoàn Berkshire Hathaway chủ yếu bàn về các vấn đề liên quan đến các hoạt động bảo hiểm. Warren Buffett giúp người đọc là những cổ đông của mình hiểu thêm về ngành này.

1_lg

  1. 2 loại lạm phát trong ngành bảo hiểm

Trong hoạt động của ngành bảo hiểm, theo Buffett có 2 loại rủi ro lạm phát chính sau mà nhà đầu tư và nhà quản lí cần lưu tâm:

(1) Lạm phát kinh tế (economic inflation): là loại tăng lên về chi phí liên quan đến việc khôi phục tài sản, con người lớn hơn so với tốc độ tăng lạm phát thông thường nói chung. Loại này khiến chi phí lỗ tăng mạnh, vượt cả các mức phí bảo hiểm ghi nhận ở các môi trường chi phí khác nhau.

(2) Lạm phát xã hội (social inflation): là loại lạm phát gây ra bởi trách nhiệm nợ về phía công ty bảo hiểm liên tục tăng lên, vượt giới hạn ban đầu khi mức phí bảo hiểm được thiết lập – khiến trách nhiệm bồi thường vượt mức phí đã trả. Loại lạm phát xã hội này tăng lên đáng kể, do số vụ kiện tụng và khả năng phải bồi thường cho các tai nạn khổng lồ – các sự kiện mà khi công ty bảo hiểm chấp nhận bảo lãnh bảo hiểm ở mức phí không coi rằng chúng có tác động đáng kể.

Ngoài 2 loại lạm phát này, các công ty bảo hiểm có tình hình tài chính dài hạn vững mạnh còn phải đứng ra chịu trách nhiệm một phần cho các công ty bảo hiểm có tài chính dài hạn mất khả năng trả nợ, khiến các khách hàng bảo hiểm rơi vào cảnh thiệt thòi. Diễn biến này tiếp tục sẽ đưa mức phí bảo hiểm tăng mạnh, để bù đắp cho kết cục của cạnh tranh về giá.

Về rủi ro, hoạt động tái bảo hiểm (reinsurance) sẽ rủi ro hơn bảo hiểm thông thường, bởi sai lầm khi ghi nhận bảo lãnh tái bảo hiểm với một mức phí không tương xứng cho các trách nhiệm phát sinh trong tương lai sẽ để lại hậu quả lớn hơn so với sai lầm tương tự ở việc bảo lãnh bảo hiểm trực tiếp (thư thường niên năm 1976). 

  1. Tính toán đầu tư trên toàn cục

Mặc dù kết quả của hoạt động bảo hiểm với mức phí mới ghi nhận sụt giảm, và chi phí hoạt động tăng lên, nhưng Warren vẫn coi lĩnh vực bảo hiểm mà Berkshire đang tham gia là hấp dẫn, bởi lẽ các khoản thu nhập đầu tư mà mảng này mang lại rất sinh lợi. Bản chất của hoạt động bảo hiểm là các công ty bảo hiểm phát hành bảo hiểm cho khách hàng, và tùy vào nghĩa vụ phát sinh mà trách nhiệm bảo hiểm về sau sẽ kéo rất lâu dài, và xác suất bồi thường không phải là tất cả. Các công ty bảo hiểm đem các khoản phí bảo hiểm thu được đi đầu tư để sinh lợi. Như vậy, rủi ro của các công ty bảo hiểm hoạt động lành mạnh mất cân đối tài chính dài hạn là thấp nếu các công ty này biết tận dụng cơ hội đầu tư (Buffett gọi cơ hội sinh lời này lợi thế cạnh tranh con hào nổi – floating moat. Thuật ngữ “con hào nổi” trong ngành bảo hiểm phát sinh vì hầu hết các hợp đồng bảo hiểm yêu cầu phí trả trước, và quan trọng hơn là chúng mất rất lâu để khách hàng bảo hiểm đòi bồi thường các trách nhiệm liên đới), và vấn đề cốt yếu nằm ở việc quản trị thanh khoản trong ngắn hạn, còn về dài hạn là tìm kiếm cơ hội đầu tư tốt để sinh lời hấp dẫn.

Như vậy dù có chỗ chưa tốt (hoạt động bảo hiểm chính), nhưng toàn cục lại tốt (hoạt động đầu tư) lại tốt là vì vậy.

insurance-management.jpg

  1. Chất lượng cổ phiếu đầu tư

Hoạt động đầu tư dài hạn của mảng bảo hiểm khiến Warren an tâm là bởi ông đầu tư vào các cổ phiếu rất chất lượng, theo như ông trình bày như sau:

“Các khoản đầu tư cổ phiếu của chúng tôi tập trung phần lớn vào một vài công ty được chọn lọc dựa trên bản chất kinh tế thuận lợi, ban lãnh đạo có năng lực và trung thực, và một mức giá mua hấp dẫn so với thang đo giá trị của một chủ sở hữu tư nhân.” Ngoài ra, năm 1976, ông còn bổ sung thêm một tiêu chí làm căn cứ chọn lọc cổ phiếu để đầu tư là ngành mà chúng tôi quen thuộc và sở hữu bản chất kinh doanh dài hạn mà chúng tôi cảm thấy có khả năng để đánh giá.

“Sự biến động của thị trường (cổ phiếu) không có ý nghĩa nhiều với chúng tôi, trừ phi chúng giúp chúng tôi có thêm cơ hội để mua vào, nhưng kết quả hoạt động kinh doanh lại đáng lưu tâm chính.” 

Quan điểm này được ông nhắc lại ở năm 1976, sau khi đã đề cập trong thư năm 1975, và thước đo so sánh qua các năm này là căn cứ để ông đánh giá công ty đầu tư.

  1. Một số chỉ số quan trọng khi xem xét đầu tư ngành bảo hiểm & ngân hàng
  • Chỉ số chi phí kết hợp (combined ratio): đo lường bằng cách lấy tổng chi phí lỗ đã phát sinh và chi phí hoạt động đã điều chỉnh lỗ chia cho doanh thu phí bảo hiểm trong kì. Chỉ số này < 100 là một trong các tiêu chí cho thấy công ty bảo hiểm hoạt động hiệu quả.
  • Chỉ số ROA của ngành ngân hàng: ở Mĩ thời kì đó chỉ số này 0.5% là bình thường. Warren Buffett nêu ví dụ ngân hàng Berkshire đầu tư là Illinois National Bank có chỉ số ROA lên đến 2%.
  • Chỉ số lợi nhuận hoạt động ròng trên tổng doanh thu ròng ngành ngân hàng: ở Mĩ năm 1975, top 30 ngân hàng lớn nhất có chỉ số này là 7%. Riêng Illinois National Bank, chỉ số này lên đến 27%.

Đc min phí các thư thường niên ca Berkshire Hathaway ti đây (t năm 1977 cho đến năm 2015): http://berkshirehathaway.com/letters/letters.html

Hoc mua hn cho mình mt quyn sách tp hp các thư thường niên ca tp đoàn t năm 1965 tr li đây, Berkshire Hathaway Letters to Shareholders, 1965-2012.

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s