Giá cổ phiếu biến động vì đâu

Khi nhìn vào thị trường cổ phiếu, chúng ta nghĩ rằng bằng việc phân tích và tìm hiểu cổ phiếu đang bị định giá thấp (so với giá trị nội tại của chúng mà nhà đầu tư tự đánh giá và định giá), cơ hội đầu tư sẽ đến cho những ai mua vào và bán ra ở những thời điểm thích hợp. Tuy nhiên, sẽ có lúc bạn nhận ra rằng, không phải lúc nào diễn biến cũng xảy ra như những gì chúng ta kì vọng. Sẽ có những lúc bạn nghĩ giá cổ phiếu rất thấp so với giá trị thực của chúng, nhưng giá cổ phiếu cứ giảm thêm. Và bạn không thể kiên nhẫn hơn được nữa, bạn nghĩ rằng mình đã tính toán/ định giá sai và buộc phải bán chúng đi để cắt lỗ. Hoặc có khi giá cổ phiếu cứ mãi đứng im, không tăng lên như sự kì vọng của bạn, và bạn rơi vào trạng thái hoài nghi chính mình và khả năng chọn lựa cổ phiếu để đầu tư.

Vậy, điều gì là động lực khiến giá cổ phiếu thay đổi? Bài viết này thể hiện các suy nghĩ chủ quan của tôi về các yếu tố khiến giá cổ phiếu biến động, và hi vọng tôi sẽ nhận được các ý kiến đóng góp, chia sẻ của các bạn ở cuối bài viết này, hoặc qua email tinlh2407@gmail.com.
1. Bản chất hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Với những nhà đầu tư giá trị, đây chính là yếu tố quan trọng hàng đầu. Doanh nghiệp đó đang trải qua giai đoạn nào ở chu kì vòng đời của doanh nghiệp? Với các công ty đã niêm yết để làm công ty đại chúng, thông thường chúng đang ở các giai đoạn tăng trưởng, trưởng thành, mở rộng hoạt động, chín muồi hoặc đang tái tạo, hoặc ở cuối vòng đời của mình.

business-development-renewal-process-7-638
Các giai đoạn của vòng đời doanh nghiệp – Ảnh: Elijah Ezendu

Điều này khá tương thích với chu kì vòng đời của ngành mà doanh nghiệp đó hoạt động:

cac-giai-doan-vong-doi-cua-nganh
Các giai đoạn vòng đời của ngành – Ảnh: Rei Lynn Hayashi

Mỗi nhà đầu tư sẽ đánh giá các cơ hội đầu tư, cụ thể là việc giá trị công ty có đang bị nhìn nhận đi lệch so với giá trị nội tại của nó hay không để quyết định mua bán cổ phiếu của doanh nghiệp.

Có nhiều thước đo để đánh giá như so sánh giữa giá cổ phiếu với giá định giá bằng các phương pháp P/E, P/B, PEG, P/CF, chiết khấu dòng tiền tự do, hoặc các chỉ số biên lợi nhuận, khả năng sinh lời ROE, ROA, ROIC.

Đối với cá nhân mình, tôi chọn thước đo ROIC để đánh giá khả năng sử dụng và phân bổ vốn của doanh nghiệp có hợp lí hay không khi đầu tư, kết hợp với các thước đo nói trên để tìm cơ hội đầu tư. Nhà đầu tư hiểu rõ nền tảng hoạt động của ngành, các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, các chất xúc tác khiến nội tại hoạt động của doanh nghiệp thay đổi về bản chất (cải thiện chi phí, do đó biên lợi nhuận thay đổi tích cực; quản lí vốn lưu động: hàng tồn kho, phải thu, phải trả cải thiện; thay đổi cơ cấu sản phẩm tích cực, mở rộng thị trường, tung các sản phẩm mới và được khách hàng chào đón; thay đổi ban quản trị, điều hành lãnh đạo theo chiều hướng có lợi cho cổ đông v.v…) – đó là những yếu tố căn bản đầu tiên bất kì nhà đầu tư nào cũng cần hiểu và áp dụng.
2. Sự kì vọng của nhà đầu tư
Bên cạnh việc tìm hiểu bản chất hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để biết giá trị nội tại của nó, nhà đầu tư cần quan tâm đến sự kì vọng của các nhà đầu tư khác trên thị trường dành cho chúng.

dien-bien-gia-bkr
Diễn biến giá trị sổ sách và giá cổ phiếu Berkshire Hathaway với chỉ số S&P 500 – Giai đoạn 1965-2012 – Nguồn: Tác giả tổng hợp

Ở biểu đồ trên, chúng ta có thể thấy chính vì bản chất hoạt động kinh doanh tốt của Berkshire Hathaway liên tục trong giai đoạn năm 1965-2012 (thể hiện ở gía trị sổ sách của công ty tăng trưởng kép trung bình 19,7%/năm) mà kì vọng của nhà đầu tư đối với giá cổ phiếu của công ty đã tăng nhanh hơn so với giá trị thực sổ sách của công ty (trung bình 21,2%/năm cùng giai đoạn). Cũng trong giai đoạn này, chỉ số S&P 500 chỉ tăng trung bình 9,4%/năm. Nói riêng về sự cách biệt trung bình 1,5%/năm ở cùng giai đoạn đó, sự chênh lệch giữa giá trị sổ sách và giá cổ phiếu công ty có sự khác biệt rõ rệt: nếu giá trị sổ sách tăng xấp xỉ 5.868 lần, giá cổ phiếu tăng đến 10.117 lần!, trong khi chỉ số S&P 500 chỉ tăng hơn 74 lần!
Về lý thuyết, đáng lí giá cổ phiếu và giá trị sổ sách của Berkshire Hathaway phải hội tụ về dài hạn, nhưng như thực tế cho thấy, chính kết quả – hoạt động kinh doanh tốt và sự kì vọng của nhà đầu tư là hai nhân tố tạo nên kết qủa này. Sự hào hứng và niềm tin của nhà đầu tư về việc quá khứ sẽ duy trì ở tương lai là lí do giải thích điều nói trên.
Sự kì vọng của nhà đầu tư về việc tăng hay giảm giá cổ phiếu có thể chủ quan hoặc khách quan, và chúng có thể hợp lí hoặc phi lí. Ví dụ sự tăng/giảm giá cổ phiếu dựa trên những tin đồn không có kiểm chứng, khiến nhà đầu tư lạc quan không có cơ sở (không dựa trên việc kinh doanh của công ty có gì đáng chú ý hay không), hoặc quá bi quan nên bán tháo cổ phiếu để tháo chạy; cũng có khi là những sự thật có cơ sở làm chất xúc tác cho sự thay đổi về bản chất của giá trị doanh nghiệp như đã nói ở phần đầu; hoặc do các diễn biến vĩ mô không liên quan khiến thị trường chứng khoán nói chung tăng, giảm, làm giá cổ phiếu cũng bị ảnh hưởng; hoặc do ngành bị tác động nên giá cổ phiếu của các công ty trong ngành cũng chịu tác động.

Sự lạc quan, bi quan đó có thể diễn biến kéo dài, không còn bám vào yếu tố nền tảng là bản chất hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đó là lí do vì sao bạn chứng kiến bạn nghĩ là cơ hội đầu tư rất tốt, nhưng chúng mãi không tăng giá, hoặc giá cứ mãi giảm, hoặc vì sao giá chúng lại tăng quá cao so với giá trị thực mà bạn nghĩ.

Tuy nhiên, sự nhìn nhận sai lầm của đám đông – Mr. Market lại là cơ hội cho những nhà đầu tư giá trị kiên trì, đi ngược đám đông và kỉ luật. Bạn không thể đoán định khi nào giá cổ phiếu sẽ phản ánh đúng giá trị nội tại của nó, nhưng việc hiểu kì vọng của thị trường là điều bạn cần quan sát và học hỏi về lâu dài khi tham gia đầu tư.
3. Cung cầu cổ phiếu
Sự kì vọng của nhà đầu tư về tương lai của cổ phiếu sẽ là động lực khiến họ mua bán cổ phiếu trên thị trường. Chính yếu tố cung cầu cổ phiếu là nguyên nhân cuối cùng tác động đến giá cổ phiếu.
Một cổ phiếu có thể do nhiều bên khác nhau sở hữu. Việc hiểu các bên tham gia mua bán, hành vi và động cơ của họ sẽ giúp lí giải vì sao các cổ phiếu biến động giá. Đó có thể là cổ đông nội bộ, cổ đông cá nhân, cổ đông tổ chức (các qũy đầu tư, các nhà đầu tư định chế).

Một cổ phiếu thanh khoản hay kém thanh khoản (giao dịch nhiều/ít trong các phiên giao dịch với số lượng, giá trị cao hay thấp so với số lượng, giá trị niêm yết) sẽ do cung – cầu quyết định. Chính sự kì vọng của những bên mua bán sẽ làm giá cổ phiếu dao động.

Lấy ví dụ: khi giá cổ phiếu xuống thấp hơn đáng kể so với giá trị thực của doanh nghiệp, chính ban lãnh đạo sẽ có động thái mua vào cổ phiếu để trấn an và bảo vệ nhà đầu tư. Hoặc các qũy đầu tư mua vào cổ phiếu vì họ nghĩ đó là cơ hội hấp dẫn để đầu tư, hoặc đó là thời điểm thích hợp để chốt lời bằng cách bán ra. Cần lưu ý phải đánh giá xem việc mua vào/bán ra đó có logic, hợp lí hay không bằng chính đánh giá của bạn. Hoặc ban lãnh đạo chính là những người sở hữu cổ phần đáng kể của công ty mua vào, bạn cần kiểm tra lí do mua vào là vì những thông tin nào, có đúng đắn hay không?
Nếu cổ phiếu càng đa dạng các thành phần sở hữu (cá nhân, tổ chức), sự phân tán rủi ro thao túng về giá được giảm thiểu, và nếu có yếu tố đầu cơ, chính động lực “chấn chỉnh” từ việc mua bán của các nhà đầu tư giá trị có đối trọng sẽ cân bằng và giúp giá cổ phiếu giao dịch hợp lí về dài hạn. Vì thế, khi xem xét cơ hội đầu tư, bạn cần kiểm tra những ai/bên nào đang tham gia vào việc sở hữu cổ phiếu, động cơ của họ là gì, và bạn có “tiếng nói” nào đáng kể để tác động lên cuộc chơi đó hay không.
Tóm lại:

1. Bản chất kinh doanh của doanh nghiệp; sự kì vọng của nhà đầu tư và cung – cầu cổ phiếu là 3 yếu tố chính làm giá cổ phiếu thay đổi.
2. Nhà đầu tư giá trị hội đủ và quan sát, đánh giá cả 3 yếu tố trên khi tham gia bất kì thương vụ đầu tư nào. Về lâu dài, chính việc kinh doanh của công ty có tốt hay không sẽ quyết định giá trị thực của cổ phiếu.
3. Nhà đầu cơ không đặt bản chất hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là mối quan tâm chính để đánh giá cổ phiếu của họ. Với họ, việc thao túng và can thiệp vào sự kì vọng giá và cung – cầu cổ phiếu là cơ hội sinh lời của họ.

Khi hiểu rõ ba điều nói trên, bạn sẽ chọn vị thế và cách tham gia cho phù hợp với nguồn lực của mình khi đầu tư giá trị.
Dưới đây là khả năng của việc kết hợp 3 yếu tố này lên giá cổ phiếu. Bạn có thể xem xét đối chiếu với diễn biến giao dịch hiện tại của bất kì mã cổ phiếu nào đang giao dịch và thử định hình 3 yếu tố này ở mã cổ phiếu đó đang ở sự kết hợp nào.

su-ket-hop-3-yeu-to-lam-gia-co-phieu-thay-doi
Sự kết hợp các khả năng có thể xảy ra làm giá cổ phiếu thay đổi

Ví dụ: mã cổ phiếu A được bạn đánh giá là kém/xấu, và kì vọng chung của số đông (thị trường) là nó sẽ giảm giá. Tuy nhiên, thực tế giá của nó lại tăng thời gian qua, vượt xa mức giá bạn nghĩ là phù hợp với giá trị nội tại của nó. Bạn cần tìm xem lí do là vì sao?, và diễn biến sẽ thay đổi như thế nào trong thời gian đầu tư bạn nghĩ là sẽ phù hợp với mình (ví dụ 3 tháng, 6 tháng, 1 năm, 2 năm, v.v…), và nhờ những “chất xúc tác”/lí do nào, do những ai/nguyên nhân nào có thể tác động.

Nếu đang sở hữu mã cổ phiếu A, bạn sẽ bán ở mức giá nào?, thời điểm nào?. Nếu không sở hữu, bạn có đầu tư vào mã cổ phiếu A ở thời điểm hiện tại? Cần tỉnh táo để không bị rơi vào cái thế bị động của nhà đầu cơ, và không kiểm soát được mình.

Advertisements

One thought on “Giá cổ phiếu biến động vì đâu

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s