Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn và lựa chọn cơ hội đầu tư

Có nhiều cách để đánh giá hiệu quả tài chính và khả năng sinh lợi của một công ty, ví dụ: biên lợi nhuận ròng (lợi nhuận ròng chia cho doanh thu thuần ghi nhận), dùng chỉ số ROE (suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu, đo bằng lợi nhuận ròng chia cho vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ), ROA (suất sinh lợi trên tài sản, đo bằng lợi nhuận ròng chia cho tổng tài sản bình quân trong kỳ), v.v…

Tuy nhiên, tôi cho rằng chỉ số thể hiện rõ nhất khả năng sử dụng và phân bổ vốn hiệu quả của một công ty, nếu nhà đầu tư so sánh nhất quán lịch sử của nó và với các cơ hội đầu tư khác, chỉ số này sẽ giúp lý gỉai nhiều vấn đề, là chỉ số dòng tiền tự do FCF chia cho vốn đầu tư đầu kỳ qua các năm. Tôi nghĩ chỉ số này loại bỏ được các nhược điểm của các chỉ số khác như sau:

1. Sử dụng dòng tiền tự do FCF (là lợi nhuận ròng sau khi điều chỉnh các khoản chi phí không bằng tiền mặt như khấu hao, các khoản dự phòng; các lợi nhuận, chi phí không phải hoạt động kinh doanh chính của công ty; thay đổi vốn lưu động và đầu tư ròng mới tài sản dài hạn), thay vì sử dụng lợi nhuận ròng (vốn không xem xét thay đổi vốn lưu động, đầu tư ròng mới tài sản, tính cả các khoản lợi nhuận, chi phí không phải bản chất kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp).
2. Xem xét và loại bỏ bớt những công ty gọi vốn đầu tư mới liên tục, trong khi tính hiệu quả về sử dụng vốn chưa rõ ràng. Điều này giúp đánh giá nhất quán việc sử dụng vốn qua các năm bằng chính tài trợ lợi nhuận giữ lại.
3. Đánh giá hiệu quả hoạt động dựa trên cả nguồn vốn chủ sở hữu và vốn vay (ngắn hạn và dài hạn). Điều này giúp đánh giá đúng bản chất kinh doanh, khi công ty sử dụng cả các loại vốn này để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
4. So sánh với tỷ suất lợi nhuận yêu cầu cho vốn bỏ ra (tùy khẩu vị của nhà đầu tư về rủi ro, bản chất của từng công ty và ngành hoạt động mà mức tỷ suất có thể dao động khác nhau – ở đây tôi cho mức chung này là 15%/năm). Việc này giúp cho chúng ta đánh giá đúng về chi phí cơ hội của vốn bỏ ra, đặc biệt là vốn chủ sở hữu (nếu sử dụng lợi nhuận ròng, chúng ta tính đến chi phí lãi vay phải trả cho chủ nợ, nhưng lại không tính đến chi phí lợi tức mà chủ sở hữu/ cổ đông yêu cầu).
5. Phần thặng dư so với lợi nhuận yêu cầu chính là phần giá trị/lợi nhuận kinh tế tăng thêm (EVA – Economic Value Added) mà bất kỳ công ty nào cũng mong muốn đạt được, và nhà đầu tư cũng luôn ưa thích các công ty sở hữu thặng dư càng nhiều này.

Nếu dùng chỉ số này để đánh giá và so sánh, nhà đầu tư sẽ nhận ra rằng nhiều công ty rất “lời” nhưng thực chất lại lỗ. Tôi đã từng đánh giá khả năng sử dụng vốn và cơ hội khi đầu tư vào các công ty VNM, CAP, LIX, GDTGTT. Nếu dùng chỉ số dòng tiền tự do FCF chia cho vốn sử dụng đầu kỳ, bạn cũng nhận ra ngay công ty nào đang tạo ra giá trị cho cổ đông về mặt dài hạn. Bởi lẽ, nếu chỉ số này càng cao và càng vượt mức tỷ suất đầu tư yêu cầu liên tục, công ty đó phải sở hữu lợi thế cạnh tranh nào đó mà bạn cần tìm hiểu và xác minh, xem xét cơ hội đầu tư và nắm giữ lâu dài:

hieu-qua-su-dung-von-cac-cong-ty-do-bang-dong-tien-tu-do-fcf-chia-cho-von-dau-tu-dau-ky-qua-cac-nam
Bài viết ngắn này của tôi hy vọng sẽ cung cấp cho bạn thêm góc nhìn mới mẻ và phản ánh chính xác hơn về việc đánh giá các cơ hội đầu tư – bởi lẽ nguồn vốn thì hữu hạn mà cơ hội thật sự không nhiều.

Advertisements

One thought on “Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn và lựa chọn cơ hội đầu tư

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s