Thị trường âm nhạc và những bước chuyển mình

Tôi vốn dĩ người yêu thích âm nhạc,đặc biệt là nhạc US-UK. Kể từ khi còn là một cậu bé 6-7 tuổi, nghe những bản nhạc như Coco Jambo, Sha la la la, tôi luôn có sự thích thú và cảm giác mình như được sống ở một thế giới khác – nơi chỉ có những cảm xúc và niềm vui, đôi khi chìm trong những nỗi niềm du dương, dù không biết ý nghĩa và hiểu lắm người ta đang hát gì (mãi khi học được vài chữ tiếng Anh, mới kịp truy lục lại giai điệu và cả thông điệp ở những bản nhạc đó).

Chính vì những hoài cảm và trân trọng dành cho âm nhạc, cho những người nghệ sĩ tôi yêu, tôi may mắn biết thêm về những thông tin về họ và dạo gần đây, tìm hiểu thêm về ngành công nghiệp ghi âm, công nghiệp giải trí, trong đó có âm nhạc.

Bài này tôi ghi chép lại những suy nghĩ trong thời gian qua về những bước chuyển của ngành âm nhạc, bao gồm cả thế giới và ở Việt Nam. Vì nặng lòng, nên bài viết này cũng nặng những nhận xét chủ quan, không có nhiều số liệu để “support,” nhưng cứ ghi chép lại, để sau này khi cần, vẫn có chỗ để truy vấn và xem xét lại. Biết đâu lại có ích với một số bạn thì sao?

Ngành công nghiệp âm nhạc thế giới, cụ thể ở Mỹ có gì đáng quan tâm?

Nếu xét về những ca khúc và nghệ sĩ nước ngoài, Mỹ là nước cho thấy rõ nhất một nền công nghiệp âm nhạc đã sớm hình thành như thế nào. Theo tôi được b iết, năm 2009, ngành công nghiệp ghi âm Mỹ có doanh số toàn thị trường khoảng 80 tỷ đô la. Đâu đó, họ luộn đi đầu về công nghệ, cách tân về giải trí. Nhờ sự ra đời của việc ghi đĩa than, sau này là băng cassette, rồ đĩa vinyl, đĩa CD, người nghệ sĩ có cơ hội tiếp cận rộng rãi và bao trùm hơn với công chúng.

Ngành công nghiệp âmnhạc Mỹ đã bắt đầu cách đây gần 140 năm, với phát minh của chiếc kèn hát và đĩa than. Rồi công nghệ ghi đĩa phát triển hơn, với chất lượng tốt hơn, giá thành hạ và sản xuất quy mô lớn, thời hoàng kim của âm nhạc Mỹ với việc bán đĩa than mạnh nhất có lẽ giai đoạn năm 50-70 thế kỉ 20. Sau này, khi sóng vô tuyến ra đời, cùng với truyền hình, nghệ sĩ lại có cơ hội đến gần hơn với người mộ đạo ở sắc thái khác, nhất là qua các đài radio và truyền hình (ở Mỹ di chuyển chủ yếu bằng phương tiện cá nhân ô tô với quãng đường dài, thời gian giải trí qua tivi cũng chiếm khá nhiều thời gian mỗi ngày của mỗi người. Đỉnh cao là sự ra đời của kênh truyền hình âm nhạc MTV vào cuối những năm 1980. Madonna, Michael Jackson – những ca sĩ huyền thoại – ông bà hoàng nhạc pop sở dĩ ngoài những nỗ lực nghề nghiệp với âm nhạc và phong cách họ tạo dựng, sự nổi tiếng và ảnh hưởng của họ còn nhờ vào những phát minh, cải tiến công nghệ ở ngành âm nhạc đó.

Ngành âm nhạc Mỹ khá đặc thù. Họ có khâu hay còn gọi là các hoạt động trong chuỗi giá trị ngành, bao gồm: tìm kiếm, phát triển tài năng nghệ sĩ; sản xuất, ghi âm; marketing, promote (xúc tiến) cho các ấn phẩm âm nhạc (các album, single); phân phối qua các cửa hàng bán lẻ theo mô hình truyền thống. Từ việc chuyên môn hóa ở các hoạt động chuỗi, ví dụ: các hãng đĩa sẽ làm công việc là tạo dựng và quản lý nghệ sĩ, xây dựng phong cách biểu diễn, thể loại họ theo đuổi, cho đến bố trí và điều phối quản lý, sản xuất, hòa âm, rồi promote các sản phẩm âm nhạc mới bằng các đài radio, các kênh truyền hình. Mỗi hoạt động lại chuyên môn hóa sâu và đi vào phân công rất chi tiết, ví dụ khâu sản xuất album mới, sẽ có người chịu trách nhiệm về giám đốc tổng thể cho concept album, rồi các đội nhóm chuyên trị về sáng tác ca từ, giai điệu, phối khí cho từng bài hát, từng album; khi diễn live/đi tour lại có các ekip riêng lo phần hậu kỳ và sản xuất,  biên đạo, ghi hình v.v…

Kết quả là hiện nay ở nước này, 4 hãng đĩa sau nắm phần lớn thị phần công nghiệp âm nhạc Mỹ, nhờ việc sáp nhập thâu tóm ở giai đoạn dài, bao gồm:

big-4-music
Bốn đại gia Big 4 là các hãng ghi âm lớn của Mỹ – Ảnh: Business Model Inc. 2011

, và thị phần của họ lần lượt như sau:

big-4-market-share
Thị phần Big 4 – các hãng ghi âm lớn của Mỹ – Ảnh: Business Model Inc. 2011

Các hãng này sẽ quản lý các con gà đẻ trứng vàng – các nghệ sỹ lớn,phát hiện các nghệ sỹ mới và quảng bá tên tuổi, sản phẩm âm nhạc của họ. Thông thường, chúng ta được biết rằng tỷ lệ ăn chia giữa các hãng này và các nghệ sỹ thường là 85-15, hoặc 90-10. Nghĩa là 10 đồng tiền bán đĩa, nghệ sỹ chỉ giữ lại được 1 đồng, vì các hãng đĩa chịu nhiều rủi ro cho việc đầu tư (tài chính và con người) vào các nghệ sỹ này, các sản phẩm âm nhạc của họ và làm sao để bán được càng nhiều đĩa càng tốt.

Đến khi công nghệ số hóa ra đời, người nghe nhạc chuyển qua mua các single, album số, và lượng đĩa truyền thống sụt giảm, và miếng bánh thị phần phân phối dần phải chia bớt cho Itunes Store của Appl chẳng hạn.

Mô hình kinh doanh âm nhạc ở Mỹ có lợi là giúp nghệ sỹ chuyên tâm cho sở trường chính của họ là sáng tác và ca hát, còn các công việc quan trọng khác không kém phần quan trọng như hòa âm, phối khí, quảng bá tên tuổi, sản phẩm, phân phối – hãng đĩa sẽ đảm trách. Tuy nhiên, nó cũng có những mặt trái nhất định, vì âm nhạc đi liền với tính thương mại hóa, người làm nghềnghệ thuật vì thếcũng chịu các ràng buộc và các quy định do các hợp đồng thu âm do các hãng đĩa đặt ra. Đổi lại, cơ hội nổi tiếng và thu nhập đi kèm cũng tăng lên, mà Mỹ là nơi sản xuất ra nhiều nghệ sỹ triệu phú, thậm chí tỷ phú đô la chắc hẳn là nhiều nhất, kéo theo cả ngành công nghiệp này đi liền – trong đó, các ông trùm tư bản ghi âm có lẽ cũng hưởng lợi rất nhiều.

Các nghệ sỹ hiện nay đang dần dịch chuyển sang việc kiếm tiền bằng cách đi tour diễn nhiều hơn, làm gương mặt đại diện (endorsements) cho các nhãn hàng, các thương hiệu thời trang, v.v…, hoặc làm doanh nhân với các sản phẩm, dịch vụ của họ như các sản phẩm rượu, thời trang, v.v… Thử nhìn qua danh sách các nghệ sỹ kiếm được nhiều tiền nhất  năm 2016 ở lĩnh vực âm nhạc trên thế giới, chúng ta có thể thấy các tên tuổi ăn khách và phủ sóng nhiều nhất năm qua như Taylor Swift, Rihanna, One Direction, U2, AC/DC, Muse v.v… đa phần có thu nhập lớn nhất đến từ việc đi tour, hoặc làm gương mặt đại diện cho các nhãn hàng. Trường hợp ngoại lệ là Adele, khi cô được cho là “cứu cánh” cho cả ngành công nghiệp ghi âm, khi lượng sales đến từ album mới 25 của cô đã chiếm tỷ trọng khủng cho cả năm qua, mặc dù nó được phát hành với cuối năm 2015. Tuy nhiên, cô vẫn đi tour, và trong số 80,5 triệu đô cô kiếm được ở năm 2016, phần lớn vẫn là doanh số đến từ hoạt động này.

Điều gì lý giải cho điều này? Là bởi mô hình các nghệ sỹ tự chủ hơn ở khâu kiếm tiền, và sự cách tân mới của công nghệ, mà cụ thể là do dịch vụ streaming âm nhạc – cải tiến ở khâu phân phối của ngành này. Các cái tên như Spotify, Pandora, Apple Music, Google Play, Tidal lần lượt khiến hành vi nghe nhạc của người dùng dần dịch chuyển theo mô hình freemium, tức miễn phí ở những tính năng, điều kiện cơ bản, còn nghe cao cấp hơn như định dạng âm thanh chất lượng hơn, nghe chọn lọc, không phải chịu “tra tấn” bởi quảng cáo v.v…,  bạn phải trả tiền. Người nghe được quyền chọn nghe các bài hát họ yêu thích, nghe không giới hạn, không nhất thiết phải mua cả album, hoặc mua single. Công nghệ thay đổi, smartphone ra đời, rồi streaming giúp “tối ưu hóa” và “tùy chỉnh hóa” cách người ta nghe nhạc.

Tốt hay xấu chưa rõ ở góc độ nghệ thuật và làm nghề, nhưng rõ ràng, công nghệ giúp người nghệ sỹ tiếp cận rộng rãi và linh hoạt, đa dạng hơn đến người hâm mộ. Từ nguồn thu nhập chính là do bán đĩa, người nghệ sỹ vẫn làm/sản xuất âm nhạc, nhưng họ “kinh doanh” hoặc làm nghề bằng các nguồn thu khác: đi tour, đại diện hình ảnh nhãn hàng, kinh doanh, và đóng góp của các hoạt động này chiếm phần lớn thời gian và thu nhập tương xứng hiện nay cho người nghệ sỹ.

Sẽ có tranh cãi giữa nghệ thuật thực sự và nghệ thuật thương mại, tuy nhiên, vẫn có những tác phẩm nghệ thuật vượt lên và thành công chiếm lĩnh tình cảm của người nghe nhạc nhờ công nghệ mới như streaming. Không ít các nghệ sỹ được cho là theo đuổi hướng thương mại vẫn sản xuất âm nhạc nghiêm túc, với các tác phẩm được giới chuyên môn đánh giá cao.

Xét cho cùng, mô hình âm nhạc truyền thống bị đe dọa bởi những cách tân, phát minh mới của công nghệ, nhưng ở góc độ người nghệ sỹ và cả người nghe nhạc, chúng ta có nhiều lựa chọn hơn, nhiều lợi ích hơn. Đó là điểm sáng và tích cực cần nhìn vào. Quan trọng hơn, ở Mỹ và các quốc gia phát triển, quyền sở hữu trí tuệ, cụ thể là tác quyền được pháp luật bảo vệ, và dù công nghệ thay đổi, họ vẫn kiếm được tiền từ việc “bán” âm nhạc, và người hâm mộ, yêu nhạc sẵn sàng trả tiền cho các single, album, streaming nào mà họ thấy xứng đáng. Đó là điểm cần ghi nhận.

Tôi rất yêu thích câu nói này của Jay Z. Anh ấy, một rapper tài năng, một doanh nhân rất b iết cách kiếm tiền, phát biểu rằng: “I’m not a businessman, I’m a business, man!” – tạm dịch: “Tôi không phải là doanh nhân, tôi là một doanh nghiệp!” Điều đó để nói rằng nghề âm nhạc được coi là một nghềkinh doanh thực sự, và đã làm kinh doanh, phải đổ cả tâm huyết, trái tim và tiền bạc vào, cùng với sức sáng tạo làm nghề và lấy khán giả, người yêu nhạc là khách hàng và phục vụ hết mình, dám chấp nhận rủi ro.

300x300
“I’m not a businessman, I’m a business, man!” – Jay Z – Ảnh: Internet

Vậy, tình hình thị trường âm nhạc Việt Nam có điểm gì đáng quan tâm? Mời bạn đọc ở bài tiếp theo, tại đây.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s