Việt Nam: Dần chuyên nghiệp hóa thị trường âm nhạc

Dưới đây là những  #ghi chép của cá nhân tôi về thị trường âm nhạc ở Việt Nam. Vì ghi nhanh, nên sau này khi có thời gian, tôi sẽ edit và hoàn chỉnh hơn với những b ài liên quan khi có điều kiện và thời gian. Mời các bạn cùng đọc!

1. Ở Việt Nam, chúng ta không có các công ty ghi âm/ các hãng đĩa, hoặc nếu có,sự liên kết và cạnh tranh chưa cao, do đó, nguồn cung thiếu hẳn hấp lực để gia tăng nhiệt thị trường âm nhạc. Đã từng có Bến Thành Audio (băng cassette), sau kinh doanh lẹt đẹt vì sự ra đời của việc nghe nhạc trực tuyến.

Đặc biệt, quyền sở hữu trí tuệ – tác quyền ở Việt Nam không được tôn trọng và nghiêm túc thực thi, do đó, người nghe nhạc trực tuyến quen nghe chùa, rồi băng đĩa lậu, khiến người nghệ sỹ làm nghề nghiêm túc khó trông đời vào việc b án đĩa để kinh doanh.

Sau này còn Kim Lợi Studio, Saigon Vafaco v.v…, nhưng giá trị mang lại cho nghệ sỹ không có, nên họ không tạo thêm dấu ấn đặc sắc mấy trên thị trường.

2. Nghệ sỹ không có công ty ghi âm, nên tự lo mọi khâu sản xuất, phân phối, book tour, diễn live v.v… Do đặc thù này mà họ có ông bầu quản lý (manager) và việc sản xuất thiên về ra nhạc single, EP với tần suất đều đặn để hâm nóng tên tuổi, hoặc tham gia các hoạt động khác đê quảng bá tên tuổi như đóng phim, làm gương mặt đại diện nhãn hàng, tham gia gameshow v.v…

record
Mô hình kinh doanh của một hãng đĩa tiêu biểu – Ảnh: Business Models Inc. 2011

Theo ảnh trên, bạn có thể hình dung được sự “vất vả” của nghệ sỹ khi họ làm nghề ở Việt Nam như thế nào. Vì không có sự chuyên môn hóa như ở Mỹ và các nước phát triển khác về ngành công nghiệp âm nhạc, nghệ sỹ Việt có nhiều công việc cần kiêm nhiệm hơn. Bù lại, họ cũng giữ lại cho mình thu nhập phần lớn.

3. Khâu phân phối bị bỏ lỡ, tồn tại song song cả việc bán đĩa và  kinh doanh hình ảnh

Về việc bán đĩa, các diva âm nhạc Việt Nam như Mỹ Linh, Thanh Lam, Mỹ Tâm, Trần Thu Hà, Hồng Nhung tự tin sống được với nghề. Họ đầu tư nghiêm túc cho các sản phẩm âm nhạc là các bài hát, album, và việc ra các sản phẩm mới được đầu tư công phu, với sự hậu thuẫn của ekip làm việc chuyên nghiệp là các nhạc sỹ tài năng, các studio ghi âm, ghi hình chịu đầu tư v.v…

Vềviệc “bán “hình ảnh, các ca sĩ trẻ sau này như: Đông Nhi, Noo Phước Thịnh, Sơn Tùng M-TP chọn theo hướng đi này. Các n ghệ sĩ này nhờ đến các platform nghe nhạc miễn phí như mp3 zing, nhaccuatui, youtube v.v… để tiếp cận người hâm mộ, bằng cách chấp nhận âm nhạc nghe miễn phí, họ sẵn sàng trả tiền để các platform nói trên đăng tải âm nhạc cho mình. Nguồn thu chính của họ là đi tour, diễn live, làm gương mặt đại diện nhãn hàng. Bạn có thể tham khảo thêm link bài Các thương hiệu đang tận dụng âm nhạc để kết nối với khách hàng như thế nào? để hiểu hơn về mô hình làm nghề của các nghệ sỹ trẻ nói trên.

Nhưng tựu chung, các nghệ sỹ Việt đều cần đi diễn live ở các chương trình ca nhạc, các show truyền hình dày đặc để hâm nóng tên tuổi, và đây cũng là nguồn thu chính của họ.

4. Các trang như mp3 zing sẽ lai một phần mô hình kinh doanh của Spotify

spotify
Mô hình kinh doanh của Spotify – Ảnh: Business Models Inc. 2011

Mô hình của platform dịch vụ nghe nhạc streaming Spotfify đang dần chứng minh sức mạnh của nó ở Mỹ và nhiều nước khác. Người nghe nhạc trả phí dịch vụ theo tháng, năm cho thứ âm nhạc, nghệ sỹ họ muốn nghe, ở các thiết  bị công nghệ như smartphone mọi lúc mọi nơi. Sẽ có đa phần nghe miễn phí, còn một phần chuyển sang nghe trả phí với các tiện ích, tính năng cao cấp và ưu tiên hơn. Mô hình này gọi là freemium model.

Các trang platform nghe nhạc miễn phí ở Việt Nam như Mp3 Zing, Nhaccuatui sẽ cũng dần đi theo mô hình này. Do đặc thù của ngành âm nhạc Việt không có thế mạnh cho các công ty ghi âm sinh sống, và sở hữu tác quyền chưa được thực thi nghiêm chỉnh, nên người nghệ sỹ không trông chờ nhiều vào việc b án đĩa nếu kinh doanh thương mại và làm nghệ thuật thực sự. Các trang nói trên cũng sẽ vẫn phục vụ đa sốtheo kiểu miễn phí, nhưng do có một tập khách hàng có nhu cầu nghe cao cấp và sẵn sàng trả phí, do đó, để cạnh tranh với Spotify và các đối thủ tương tự, Mp3 Zing, Nhaccuatui sẽ phải nâng cấp một phần mô hình kinh doanh của mình tương tự.

itunes
Mô hình kinh doanh của iTunes – Ảnh: Business Models Inc. 2011

Ngay cả Apple, sau khi số hóa âm nhạc và phân phối qua iTunes Store, h ọ cũng đang chạy theo Spotify với Apple Music cho dịch vụ streaming, và Google cũng có động thái tương tự với Google Play.

Công nghệ giúp tối ưu hóa âm nhạc ở khâu phân phối, và sự tham gia của các tay chơi công nghệ lớn chứng minh một điều các mô hình kinh doanh cũ kỹ sẽ dần phải nhường bước cho những dịch vụ, giá trị tiện ích, hợp lý hơn cho khách hàng -người nghe nhạc.

Vì không có ngành công nghiệp âm nhạc đúng nghĩa, nên âm nhạc ở Việt Nam sẽ được thương mại hóa để gắn hết người nghệ sỹ mà tài trợ chính là các nhãn hàng, còn người hâm mộ kiêm vai trò người tiêu dùng sẽ trả phí gián tiếp.

Rồi Việt Nam cũng sẽ có 1 phần người nghe nhạc chuyển sang nghe nhạc trả phí, streaming, nhưng không đại chúng ngay được. Đến lúc này, mô hình âm nhạc ở Việt Nam vẫn là open content model (nội dung mở). Nó có sức sống và phù hợp cho việc chưa quen trả phí nghe nhạc cho người làm nghệ thuật như ở Việt Nam. Các bên tài trợ cho nhau và vẫn đạt được mục tiêu của việc làm nghề nghệ thuật và thương mại hóa, còn người nghe cũng vì thế được lợi cho nhận thức của họ.

 

Advertisements

One thought on “Việt Nam: Dần chuyên nghiệp hóa thị trường âm nhạc

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s